Đôi điều về viêm gan B

Mục này chỉ nhằm giải đáp các thắc mắc về sức khoẻ có tính cách tổng quát. Cho các vấn đề cụ thể, chi tiết, của từng bệnh nhân, xin liên lạc trực tiếp với bác sĩ để được thăm khám trực tiếp. 

Đôi điều về viêm gan B (kỳ 3) 

Hỏi: Chồng sắp cưới của em bị viêm gan B, như vậy em có cần chích ngừa viêm gan B hay không? Chúng em sẽ sống chung với gia đình bên nhà em, như vậy những người trong nhà có cần chích ngừa hay không? Có cách nào để chữa trị bệnh viêm gan B cho chồng em hay không? Phải chích thuốc hay uống thuốc? Hết bao lâu? Có tốn nhiều tiền lắm không? Nếu không chữa thì có nguy hiểm lắm không? (VL) 

Tôi đã chích viêm gan B mũi đầu tiên, sau đó đi xa nên quên không kịp chích hai mũi sau, bây giờ đã bảy tháng rồi, có cần chích lại từ đầu hay không hay chỉ tiếp tục chích hai mũi còn lại? (Tâm) 

Tôi đã có chích ngừa viêm gan B lâu lắm rồi, nhưng sao thử máu bác sĩ nói là không có miễn dịch, vậy phải làm sao? Tỉ lệ hiệu quả của thuốc ngừa có cao không? Chích ngừa một lần là đủ cho suốt đời hay cần phải lập lại nhiều lần? Nếu như vậy thì bao lâu phải chích một lần? Làm sao để biết chắc là chích ngừa có hiệu quả? (Cung) 

Tôi có người thân đã bị viêm gan B mà không biết, lại đi chích ngừa. Như vậy có nguy hiểm gì hay không? (Bui) 

Nghe nói bị viêm gan B thì trước sau gì cũng bị ung thư gan, có đúng không? Nếu chữa bệnh thì có còn bị ung thư hay không? Khi đã bị rồi, ngoài việc đi bác sĩ, có cần phải tránh ăn thức ăn gì, cần phải làm gì khác để bệnh ít trở nặng hay không? (ông Ba) 

Tôi có ăn nằm với một người bạn mới rồi mới biết người đó đã bị viêm gan B, phải làm sao? (T) 

Đáp: 

Nên làm gì khi vừa mới bị lây 

Nếu vừa mới (có thể) bị lây, hoặc qua quan hệ tình dục, hoặc bị kim đâm từ người đang bị viêm gan B, nên đến bác sĩ càng sớm càng tốt vì cần chích thuốc ngừa trong vòng 48 tiếng đồng hồ, trễ nhất là trong vòng một tuần. 

Trong trường hợp này, người bị lây sẽ cần phải được chích kháng thể viêm gan B (HBIg) và thuốc ngừa viêm gan B tại hai nơi khác nhau của cơ thể trong vòng 48 tiếng, trễ lắm là một tuần. Sau một tháng sẽ cần phải chích kháng thể và thuốc ngừa lần thứ hai, và đến tháng thứ sáu cần mũi ngừa thứ ba. 

Nếu có bầu mà đang bị viêm gan B, cần phải báo cho bác sĩ biết (dù rằng thường thì khi có bầu, các bác sĩ vẫn cho thử xem có bị viêm gan B hay không). Vì những em bé sinh từ bà mẹ bị viêm gan B (HBsAg dương tính) cần phải được chích thuốc ngừa và kháng thể trong vòng 12 tiếng đồng hồ từ lúc sanh. Điều này rất quan trọng, vì tỉ lệ bị viêm gan B mạn tính (chronic) lên đến 90 phần trăm nếu bị lây lúc mới sinh, trong khi tỉ lệ này khi bị lây lúc đã lớn chỉ từ hai đến năm phần trăm. 

Các biến chứng và dự hậu của viêm gan B 

Khi mới bị nhiễm, ta có thể sẽ ở trong giai đoạn cấp tính. Thường thì giai đoạn này không nguy hiểm, có các triệu chứng như cảm và sẽ tự hết, sau đó một số sẽ chuyển qua giai đoạn mạn tính (chronic-còn gọi là kinh niên), tỉ lệ chuyển qua mạn tính phụ thuộc rất nhiều vào tuổi tác lúc bị nhiễm. Tỉ lệ này là 90 phần trăm ở trẻ sơ sinh, 20 đến 50 phần trăm ở trẻ từ 1 đến 5 tuổi, và dưới 5 phần trăm ở người lớn. 

Các biến chứng chính thường xảy ra ở các trường hợp mạn tính, là xơ gan và ung thư gan. Bệnh nhân có thể bị xơ gan trước rồi có thể (hay không) chuyển sang ung thư gan, hoặc có thể bị ung thư gan mà không qua giai đoạn bị xơ gan. 

Dự hậu (prognosis-còn được gọi là tiên lượng) của bệnh viêm gan B bị ảnh hưởng rất nhiều bỡi khả năng sinh sôi nảy nở của virus viêm gan B trong cơ thể cũng như khả năng chống trả của hệ thống miễn dịch đối với virus. Một số yếu tố không thuận lợi cho dự hậu của bệnh viêm gan B là: đàn ông, rượu, và sự cùng bị lây nhiễm bỡi các virus viêm gan khác. 

Một số nghiên cứu thấy rằng tiên lượng của những người bị lây nhiễm từ đường máu thường tốt hơn, trong khi tiên lượng ở những người bị lây nhiễm trong những vùng có nhiều người bị bệnh (endemic-có dịch trong vùng-như Việt Nam) thường xấu hơn. 

Một số nghiên cứu thấy rằng, nếu bị nhiễm ở những vùng có nhiều người bị hoặc khi đã bước vào giai đoạn mạn tính, ,trong vòng năm năm: 

· tỉ lệ bị chuyển sang xơ gan giai đoạn đầu (compensated cirrhosis-viêm gan còn bù) là 12 đến 20 phần trăm. 

· Tỉ lệ chuyển từ xơ gan giai đoạn đầu (compensated cirrhosis) sang giai đoạn trễ (hepatic decompensation) là 20 đến 23 phần trăm 

· Tỉ lệ chuyển từ xơ gan giai đoạn đầu sang ung thư gan là 6 đến 15 phần trăm 

Theo một số nghiên cứu, tỉ lệ sống sót khi đã bị xơ gan là: 

· Ở những người bị xơ gan giai đoạn đầu (compensated cirrhosis), 85 phần trăm còn sống sau năm năm. 

· Ở những người bị xơ gan giai đoạn trể (decompensated cirrhosis), 55-70 phần trăm còn sống sau một năm và 14-35 phần trăm còn sống sau năm năm. 

Một trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỉ lệ sống sót ở những người bị viêm gan B mạn tính là giai đoạn sinh sản (replication phase) của virus, giai đoạn này càng dài thì dự hậu càng xấu. 

Khi đã bị ung thư gan, dự hậu rất xấu. Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc chuyển sang ung thư gan là sự hiện diện của kháng nguyên HBeAg (thành phần của virus cho thấy virus vẫn trong giai đoạn sinh sản và bệnh nhân có khả năng lây bệnh cao). 

Việc chữa trị sẽ có thể giúp chấm dứt khả năng sinh sản của virus và khả năng lây bệnh của bệnh nhân, tức là giúp làm giảm sự phát triển đến các biến chứng kể trên. 

Còn nhiều yếu tố phức tạp khác ảnh hưởng đến dự hậu của của bệnh, và trong số đó, những điều cần chú ý là rượu và cùng bị nhiễm các virus viêm gan khác. 

Chữa viêm gan B như thế nào, có mắc tiền không? 

Không có cách chữa trị nào đặc hiệu cho việc chữa trị viêm gan B giai đoạn cấp tính. Nói chung, trong 95 phần trăm các trường hợp ở người lớn, hệ thống miễn dịch sẽ tiêu diệt virus trong vòng sáu tháng. 

Ở những người không may bị tiến triển sang giai đoạn mạn tính, mục tiêu của điều trị là ngăn chặn việc sinh sản của virus trong lúc tổn thương gan vẫn còn có thể hồi phục. 

Nói chung, tất cả những người bị viêm gan B mạn tính nên chích ngừa viêm gan A (một bệnh lây qua đường ăn uống và do đó khó có thể phòng bằng cách khác). (Hiện nay chưa có thuốc ngừa viêm gan C). Những người bị xơ gan nên chích ngừa viêm phổi và mỗi năm nên chích ngừa cúm. 

Cho tới nay, xét nghiệm sàng lọc nhằm phát hiện sớm ung thư gan bằng siêu âm gan và thử mức AFP trong máu (serum alpha fetoprotein-một chất đạm thường được tạo ra bỡi các bướu của gan), thường được thực hiện mỗi sáu tháng đến một năm, dù rằng, cách tốt nhất để khám phá sớm ung thư gan vẫn chưa được xác định. 

Hiện nay có ba loại thuốc đã được FDA chuẩn thuận để chữa viêm gan B mạn tính. Một loại thuốc chích, hai loại thuốc uống (thường chỉ dùng một trong ba loại này). Tùy theo từng trường hợp cụ thể, bác sĩ sẽ quyết định có nên bắt đầu chữa bằng thuốc hay chưa và nên dùng loại thuốc nào. 

Cần nhấn mạnh việc chữa trị phải được theo dõi cẩn thận bỡi bác sĩ , tốt nhất là bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và gan. Có trường hợp không cần chữa trị ngay vì đợi đúng lúc trị kết quả sẽ tốt hơn, và khi chữa trị, bác sĩ cần phải theo dõi thường xuyên phản ứng của thuốc trên các cơ quan của cơ thể cũng như hiệu quả của việc điều trị. 

Một cách rất giản lược, 

· thuốc chích interferon alpha 2b, thường được chích dưới da ba lần một tuần trong trung bình là 16 tuần. Tiền thuốc mỗi tháng trung bình khoảng 1,800 đô la. 

· Thuốc uống lamivudine, uống mỗi ngày một lần trong vòng ít nhất là một năm, ít tác dụng phụ hơn thuốc chích. Điểm yếu quan trọng của thuốc này là nếu dùng lâu năm, virus có thể lờn thuốc. Giá trung bình hiện nay của thuốc này là khoảng 180 đô la một tháng. 

· Thuốc uống adefovir, uống mỗi ngày một lần trong vòng ít nhất là một năm, ít tác dụng phụ, tỉ lệ lờn thuốc còn rất thấp. Giá trung bình hiện nay là khoảng540 đô la mỗi tháng. 

Giá tiền thuốc thay đổi tùy theo mua ở đâu. Và đa số các bảo hiểm thường đều sẽ chi trả cho việc điều trị nếu sự cần thiết được xác nhận bỡi bác sĩ chuyên khoa. 

Một trong những cách chữa trị khác là ghép gan. Tuy nhiên tỉ lệ gan mới được ghép bị tái nhiễm viêm gan B vẫn còn rất cao. 

Nghiên cứu trong việc chữa trị viêm gan B mạn tính đang rất phát triển, có rất nhiều thuốc đang được nghiên cứu, hi vọng sẽ mang lại các tiến bộ nhanh chóng. 

Thân mến, 
Posted in: | Posted by :

Hiểm họa từ virut viêm gan B

(Bệnh viêm gan b) Trên thế giới có khoảng 1/3 dân số tức là trên 2 tỷ người bị nhiễm virut viêm gan B và khoảng 350 triệu người trong số họ trở thành mang virut mạn tính.
Nếu trẻ em nhiễm virut viêm gan B do lây truyền từ mẹ thì 98% những trẻ em này sẽ mang virut suốt đời và 40% trong số này có nguy cơ sẽ chết vì bệnh xơ gan và ung thư gan. Vì thế tiêm vaccin phòng bệnh cho trẻ ngay sau khi sinh là một biện pháp phòng bệnh tốt nhất.

tiêm phòng viêm gan b

Đường lây truyền của virut viêm gan B

- Lây truyền qua đường máu: hay gặp do truyền máu và chế phẩm của máu có nhiễm virut viêm gan B, dùng kim tiêm chung mà chưa được khử trùng theo đúng tiêu chuẩn.
- Lây truyền qua quan hệ tình dục.
- Truyền từ mẹ sang con: Virut được truyền từ mẹ sang con trong quá trình sinh đẻ mà không phải trong thời kỳ mang thai. Nếu trong cơ thể mẹ có virut viêm gan B thì khả năng lây truyền từ mẹ sang con ngay sau khi lọt lòng là 50-90% tùy theo nồng độ virut trong huyết thanh của mẹ cao hay thấp và người mẹ có HBeAg dương tính hay âm tính. Đây là con đường lây truyền nguy hiểm cần phải phòng tránh.
Bệnh viêm gan B và những nguy hiểm khôn lường

Diễn biến khi bị virut xâm nhập

Sau khi nhiễm virut viêm gan B phần lớn người bệnh không có biểu hiện của bệnh chỉ có một số ít người có biểu hiện viêm gan virut B cấp tính đó là: mệt mỏi, chán ăn, sợ mùi thức ăn, đặc biệt là thức ăn có nhiều chất béo và nhiều chất đạm đạm (trứng, thịt, cá), đau mỏi toàn thân, đi tiểu nước tiểu sẫm màu như nước trà đặc hoặc nước vối, tiếp sau đó da và củng mạc mắt vàng tăng dần. Sau 1-2 tháng diễn biến bệnh nhân dần hồi phục. Tuy nhiên trong giai đoạn viêm gan cấp có một tỷ lệ rất ít bệnh nhân có thể viêm gan nặng và suy gan dẫn tới tử vong.
Khoảng 10% số người lớn sau khi bị viêm gan virut B cấp tính sau 6 tháng vẫn chưa sạch virut mà chuyển sang giai đoạn mạn tính. Trong trường hợp điển hình viêm gan virut B mạn tính bệnh nhân có từng đợt mệt mỏi, nước tiểu sẫm màu, đau vùng gan, có thể có vàng da, khi đi khám bệnh thường được phát hiện có gan to, chắc. Thật không may mắn cho người bệnh, ở giai đoạn mạn tính hầu như không có biểu hiện các triệu chứng mặc dù bệnh vẫn tiến triển âm thầm dẫn tới xơ gan và ung thư gan.

Cách xác định có bị nhiễm virut viêm gan B hay không

Muốn biết mình có nhiễm virut viêm gan B chỉ cần xét nghiệm HBsAg trong máu. Nếu kết quả cho thấy có dương tính với HBsAg tức là mình đã bị nhiễm virut viêm gan B. Nếu xét nghiệm cho kết quả âm tính với HBsAg mà có dương tính với Anti-HBs có nghĩa là mình đã có nhiễm virut viêm gan B nhưng đã khỏi và hiện tại đã có miễn dịch với virut viêm gan B. Nếu xét nghiệm cho kết quả âm tính với HBsAg mà đồng thời có âm tính với Anti-HBs thì trường hợp này cần phải đi tiêm phòng vì cơ thể chưa bị nhiễm virut viêm gan B và cũng chưa có khả năng miễn dịch với bệnh.
Sau khi có viêm gan virut B cấp tính nếu sau 6 tháng mà xét nghiệm HBsAg vẫn dương tính tức là người đó đã chuyển sang giai đoạn mạn tính.

Điều trị viêm gan virut B

Phần lớn viêm gan virut B cấp tính không cần dùng thuốc đặc hiệu để điều trị virut vì 90% số trường hợp mắc bệnh ở người lớn hoặc trẻ em lớn bệnh sẽ khỏi hoàn toàn. Trong giai đoạn cấp tính người bệnh chỉ cần nghỉ ngơi đảm bảo dinh dưỡng tốt bệnh sẽ dần hồi phục. Theo khuyến cáo của Hội Gan mật Hoa Kỳ (American Association for the Study of Liver Diease -AASLD) viêm gan virut B mạn tính chỉ điều trị khi men gan ALT (Alanine aminotranferase) tăng cao trên 2 lần trở lên so với bình thường. Trên thế giới ngày nay ALT đối với người khỏe mạnh bình thường < 30 IU/ml đối với nam giới và < 19 IU/ml đối với nữ giới. Trong trường hợp ALT cao ít hơn hoặc không cao mà khi sinh thiết gan cho thấy có viêm hoại tử nhiều hoặc xơ nhiều thì cũng có chỉ định điều trị.
Các thuốc điều trị viêm gan: có hai nhóm thuốc đó là các thuốc uống có nguồn gốc nucleoside và thuốc tiêm là các interferon. Các thuốc nucleoside bao gồm: lamivudine, adefovir, telbuvidine, entecavir, tenofovir. Những thuốc này dễ sử dụng nhưng phải dùng thuốc kéo dài. Các thuốc interferon dạng thuốc tiêm này ít có hiệu quả đối với người Việt Nam bị viêm gan virut B mạn tính bởi vì nhóm thuốc này có tác dụng tốt với viêm gan virut B mạn tính do genotype A mà người Việt Nam chủ yếu là genotype B và C gây ra.

Phòng ngừa bệnh và biến chứng

Đối với người chưa có miễn dịch với virut viêm gan B cần tiêm phòng.
Đối với trẻ em sinh ra từ mẹ mà xét nghiệm có HBsAg dương tính cần được dùng globulin miễn dịch và tiêm phòng vaccin trong vòng 12 giờ ngay sau khi sinh sẽ giúp giảm 95% khả năng lây truyền từ mẹ sang con.
Đối với những người viêm gan virut B mạn tính mà chưa có chỉ định điều trị cần theo dõi thường xuyên cứ 3-6 tháng một lần bằng xét nghiệm ALT trong máu và siêu âm gan.
Không dùng dao cạo râu và bàn chải đánh răng chung với người có nhiễm virut viêm gan B.
Trước khi kết hôn cần thử HBsAg nếu vợ hoặc chồng có nhiễm virut viêm gan B mà người kia chưa có miễn dịch cần tiêm phòng trước khi kết hôn.
Posted in: | Posted by :

mẹ bị viêm gan b có ảnh hưởng đến con

Viêm gan B là bệnh lây lan trong cộng đồng qua đường quan hệ tình dục, truyền máu và từ mẹ sang con, trong đó chủ yếu là từ mẹ sang con. Việt Nam là nước có tỉ lệ người nhiễm viêm gan B cao so với thế giới, chiếm khoảng 15%- 20% dân số. Điều đáng nói là có tới 90% – 95% mẹ bị nhiễm virut viêm gan B lây sang con.
Kiểm tra sức khỏe cho con

Viêm gan B dẫn tới xơ gan và ung thư gan

Sau khi nhiễm virut viêm gan B phần lớn người bệnh không có biểu hiện của bệnh, chỉ có một số ít người có biểu hiện viêm gan virut viêm gan B cấp tính như: mệt mỏi, chán ăn, sợ mùi thức ăn đặc biệt là thức ăn có nhiều chất béo và nhiều chất đạm (trứng, thịt, cá), đau mỏi toàn thân, nước tiểu sẫm màu… Sau 1-2 tháng bệnh nhân dần hồi phục. Tuy nhiên trong giai đoạn viêm gan cấp có một tỉ lệ ít bệnh nhân có thể viêm gan nặng và suy gan dẫn tới tử vong. Khoảng 10% số người lớn sau khi bị viêm gan virut B cấp tính sau 6 tháng sẽ chuyển sang giai đoạn mạn tính. Ở giai đoạn này phần lớn người bệnh không có triệu chứng mặc dù bệnh vẫn tiến triển âm thầm dẫn tới xơ gan và ung thư gan.
Nếu không được theo dõi và điều trị đúng thì sau 10 – 15 năm, những người bị nhiễm virut viêm gan B sẽ chuyển thành viêm gan mạn tính, xơ gan, ung thư gan.

Lây từ mẹ sang con – Đường lây truyền chủ yếu

Ngoài lây qua đường truyền máu, quan hệ tình dục, bệnh viêm gan B lây truyền từ mẹ sang con là chủ yếu. Khi phụ nữ mang thai bị nhiễm virut viêm gan B có thể truyền sang bào thai. Trong giai đoạn 3 tháng đầu của thai kỳ thì tỷ lệ lây nhiễm từ mẹ sang con là 1%, nếu mẹ bị bệnh ở 3 tháng giữa của thai kỳ thì tỷ lệ lây nhiễm sang con là 10% và sẽ tăng cao tỷ lệ lây nhiễm sang con tới 60-70% nếu mẹ bị mắc bệnh ở 3 tháng cuối của thai kỳ.
Nguy cơ truyền bệnh cho thai nhi có thể lên tới 90% nếu không có biện pháp bảo vệ ngay sau khi sinh, 50% số trẻ này sẽ bị viêm gan mạn tính và có nguy cơ bị xơ gan lúc trưởng thành.
Người mẹ bị nhiễm viêm gan siêu vi B trước khi có thai có thể xảy ra khi đang mang thai. Việc có thai không phải là yếu tố làm cho bệnh viêm gan siêu vi B ở mẹ nặng lên mà ngược lại siêu vi B không gây ảnh hưởng xấu cho tiến trình mang thai cũng như cho bào thai. Việc mang thai tiến triển bình thường, thai nhi phát triển tốt và không có nguy cơ bị dị dạng thai nhi. Chỉ khi mẹ bị viêm gan siêu vi B nặng ở giai đoạn III của thai kỳ thì mới có nguy cơ sinh non.

Phòng tránh như thế nào?

- Người mẹ bị viêm gan B nếu không muốn lây sang con thì phải điều trị bệnh ổn định trước khi mang thai và tiêm phòng cho trẻ ngay sau sinh.
- Nếu mẹ bị viêm gan siêu vi B thì trẻ sơ sinh được tiêm huyết thanh đặc hiệu chống siêu vi B ngay trong phòng sinh. Và tiêm vaccin phòng viêm gan B cho trẻ theo đúng lịch tiêm chủng.

Posted in: | Posted by :

Viêm gan b

Có lẽ bất kỳ ai rơi vào hoàn cảnh như của bạn cũng khó tránh khỏi băn khoăn về sức khỏe của vợ và những đứa con tương lai của mình. Có thể bạn đã biết, viêm gan b là một bệnh truyền nhiễm do một loại virus gây ra ở gan.

Loại virus này có thể lây truyền từ người mang virus viêm gan B sang người lành thông qua ba con đường chính: quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su, truyền máu và các sản phẩm của máu (bao gồm cả tiêm chích không an toàn), mẹ truyền sang con khi sinh nở.

Như vậy, với tình huống của bạn, nếu hai bạn kết hôn và sinh con mà không áp dụng bất kỳ biện pháp phòng lây nhiễm nào thì bạn gái của bạn có thể lây truyền virus viêm gan B sang cho bạn và các con. Chính vì vậy, nếu hai bạn có mối quan hệ gần gũi thì trước hết bạn hãy tới các cơ sở y tế chuyên khoa để làm xét nghiệm xem đã có virus viêm gan B trong cơ thể hay chưa. Nếu kết quả xét nghiệm là âm tính thì bạn cần tiêm phòng virus viêm gan B để cơ thể bạn được bảo vệ khỏi nguy cơ lây virus viêm gan B  từ bạn gái khi hai bạn có quan hệ tình dục. Còn đối với con của bạn, vì virus viêm gan B từ cơ thể người mẹ có thể lây truyền trực tiếp sang cho con trong quá trình mang thai và sinh nở nên khi vợ bạn có bầu, cần thông báo với bác sỹ sản khoa tình trạng nhiễm viêm gan B của mình để được theo dõi và hướng dẫn phòng lây nhiễm sang cho con của các bạn. Hiện nay các em bé được sinh ra bởi các bà mẹ có virus viêm gan b cần được tiêm phòng viêm gan B ngay trong vòng 24 giờ kể từ khi mới được sinh ra. Đây là thông tin rất quan trọng hai bạn cần biết để có thể trao đổi trực tiếp với bác sỹ theo dõi tình trạng thai nghén và sinh nở của vợ con bạn sau này. Như trong thư bạn đã chia sẻ, bác sỹ đã trao đổi với hai bạn rằng bạn gái bạn sẽ sống chung với virus viêm gan B đến suốt đời và cần giữ gìn sức khỏe. Điều đó là chính xác, bởi hiện nay chưa có loại thuốc nào có thể tiêu diệt hoàn toàn virus viêm gan B khi đã xâm nhập vào cơ thể. Người nhiễm virus viêm gan sẽ chung sống suốt đời với virus này. Tuy nhiên sự chung sống này có hòa bình hay không phụ thuộc rất lớn vào chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi và khả năng miễn dịch của cơ thể. Bởi 90% trường hợp nhiễm virus viêm gan B không có các dấu hiệu của bệnh gan, suy giảm chức năng gan và được coi là “người lành mang mầm bệnh”. Còn lại 10% có thể diễn tiến thành viêm gan cấp tính, mãn tính, ung thư gan, xơ gan.


Lời khuyên của bác sỹ khi nhiễm virus viêm gan b

Vì vậy bạn gái của bạn cần đi khám sức khỏe định kỳ và kiểm tra chức năng gan định kỳ 6 tháng/ lần. Khi ở trong tình trạng viêm gan, bệnh xơ gan hay ung thư gan, men gan tăng cao… thì cần tích cực điều trị. Còn bình thường bạn gái bạn chỉ cần chú ý nghỉ ngơi, ăn uống điều độ, tránh làm việc quá sức, tránh các thức ăn cay nóng, các chất kích thích, ăn nhiều rau xanh, hoa quả… Khi sử dụng bất kỳ loại thuốc chữa bệnh nào cô ấy cũng cần tham khảo ý kiến bác sỹ chuyên khoa để không làm tăng gánh nặng cho gan.
Posted in: | Posted by :

Điều trị và chữa bệnh gan ở đâu là hiệu quả nhất ?

1 Hướng dẫn và điều trị viêm gan b như thế nào
Viêm gan b là một trong những căn bệnh do virut viêm gan b gây ra, chúng tấn công và phá hủy các tế bào lá gan,  Viêm gan b biến chứng thành xơ gan, ung thư gan, hiện nay nước ta chiếm tỉ số% người bị mắc viêm gan b là khá cao, Theo các chuyên gia đã nghiên cứu nhiều phương pháp điều trị viêm gan b và các loại thuốc đặc trị để chữa trị bệnh viêm gan b,

Theo thông tin gần đây nhất là giáo sư C.L.Lai, chủ nhiệm khoa bệnh gan trường đại hoc y học cho biết cớ tới 25 -40% số người trên toàn thế giới mắc bệnh viêm gan b và bị tử vong vì bệnh viêm gan,
Các nhà khoa học đã không ngừng nghiên cứu ra các phương pháp mới nhất để Điều trị bệnh viêm gan, một cách hiệu quả nhất cho con người chúng ta

Một trong những thảo dược được các nhà khoa học thuộc viện trung ương đặc biệt quân tâm và nghiên cứu tới đó là cây thảo dược cà gai leo,  các nhà khoa học đã nghiên cứu về hoạt chất chiết xuất ra từ cây cà gai leo nó có tác dụng chống viêm

 khoa học cũng chứng minh rằng cây chó đẻ cũng có thể giúp chữa được bệnh viêm gan b rất tốt cây chó để có chữa nhiều các chất hóa học khác nhau như: flavonoit, alkaloid phyllanthin: các hợp chất như hypophyllanthin, nirathin..vv

2 Công dụng của các loại thảo dược 

về dược năng của các lại thảo dược như chó đẻ, thí nghiệm về hoạt tính bảo vệ lá gan của cây chó để cho thấy nó có thể bảo vệ gan rất tốt, Theo đông y cho rằng cây chó đẻ có vi ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng tốt cho việc lợi tiểu, tiêu độc, sát trùng, thông huyết, điều kinh, thanh can, lượng huyết, hạ nhiệt, thường được dùng để chữa các bệnh đâu gan

tuy nhiên trong quá trình sử dụng thảo dược để chữa bệnh viêm gan b chũng ta cần biết cách pha chế hay nói cách khác là biết cách sắt thuốc như thế nào để được hiệu quả cao nhất,

khi điều trị viêm gan b ta lên kết hợp các loại thảo dược như: chó đẻ 30 g, nhân trần 12 g, sài hồ 12 g, chi từ 8g, hạ khô thảo 12g , sao khô 20g, nấu và uống mỗi ngày một thang (lưu ý là càng uống nhiều lần trong  1 ngày càng tốt )

dưới đây là một số các thảo dược để Điều trị bệnh viêm gan b


Cây chó để


Nhân trần
Bên trên là các thảo dược và các phương pháp Điều trị và chữa bệnh viêm gan b hiệu quả nhất,
chúc các bạn có một sức khỏe tốt
Posted in: | Posted by :

Biểu hiện của viêm gan B

Viêm gan B có thể chia làm nhiều loại: cấp, mãn hay thể kéo dài. Tuy mỗi dạng có những đặc trưng riêng, nhưng đều có chung một số triệu chứng sau:
Người mới bị viêm gan virus B cấp, thường bị sốt nhẹ trong những ngày đầu của bệnh. Tuy nhiên, những người bị viêm virus B mãn cũng có thể sốt nhẹ nhưng bệnh nhân thường bị sốt thất thường vào chiều.
Bệnh nhân có cảm giác người rất mệt mỏi, không muốn ăn uống, không  muốn đi lại. Triệu chứng này tồn tại ở đa số bệnh nhân với các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, cũng có những bệnh nhân viêm gan virus B chỉ có triệu chứng mệt mỏi là duy nhất.
Bệnh nhân có thể có rối loạn tiêu hoá, thể hiện: khi ăn vào ậm ạch khó tiêu, đi ngoài phân lỏng, nát… Đặc biệt, với những trường hợp viêm gan B có ứ mật nặng thì phân bị bạc màu.
Bệnh nhân có nước tiểu vàng. Có nhiều bệnh nhân bị viêm gan B không thể hiện những triệu chứng trên mà chỉ có hai triệu chứng là mệt mỏi và đi tiểu vàng.
Một số bệnh nhân có biểu hiện đau tức vùng gan.
Triệu chứng vàng da. Điều này rất có ý nghĩa thúc đẩy người bệnh nghĩ đến việc mình bị viêm gan và đi khám bệnh. Tuy nhiên, có rất nhiều bệnh nhân bị viêm gan B mà không hề bị vàng da. Lúc này, cần để ý tới các triệu chứng khác để nghĩ đến khả năng bị viêm gan B.
Khi bệnh nhân có các triệu chứng nêu trên mà xét HBsAg (+) dương tính và men gan tăng thì khả năng chắc chắn là bị viêm gan do virus viêm gan B.
Các triệu chứng thường xuất hiện 4-6 tuần sau khi nhiễm HBV và có thể từ nhẹ đến nặng,  gồm một số hoặc đủ các triệu chứng sau đây: chán ăn, buồn nôn và nôn, ốm yếu và mệt mỏi, đau bụng vùng gan, vàng da và vàng mắt, đau khớp, nước tiểu sẫm màu. Viêm gan B mạn tính: 90% trường hợp nhiễm HBV ở tuổi trưởng thành sẽ hồi phục hoàn toàn, còn 10% chuyển thành nhiễm khuẩn mạn tính.
Trong khi nếu trẻ em bị nhiễm HBV sau khi sinh thì khoảng 90% số trẻ này sẽ bị nhiễm khuẩn mạn tính. Thời kỳ này kéo dài nhiều năm, thường không có triệu chứng gì, nhưng sẽ dẫn tới hậu quả nặng nề như xơ gan, xuất huyết tiêu hóa, ung thư gan...
Xét nghiệm máu, HBsAg dương tính trong các trường hợp:  nhiễm HBV mạn tính tiến triển gây ra phản ứng viêm kéo dài trong gan; Những người đã từng nhiễm HBV, cơ thể đã tạo ra miễn dịch và thải trừ hoàn toàn HBV nhưng hiện tại không có viêm gan; Người lành mang mầm bệnh, ở họ không có bằng chứng viêm gan, nhưng cũng không đào thải hết siêu vi ra khỏi cơ thể, khi đó họ mang HBV trong máu và có thể lây nhiễm sang người khác.
Xét nghiệm kháng nguyên E phát hiện sự có mặt của một protein do tế bào nhiễm HBV tiết ra, kết quả dương tính do có nồng độ virut cao trong máu và dễ lây nhiễm
Các biến chứng do viêm gan B
Viêm gan B mạn tính cuối cùng có thể dẫn tới biến chứng nặng như xơ gan, suy gan và ung thư gan. Xơ gan dẫn tới nhiều biến chứng khác như chảy máu thực quản và cổ trướng. Khi các chất độc tích lũy trong máu có thể gây ảnh hưởng thần kinh dẫn đến lú lẫn và hôn mê trong bệnh não gan. Nguy cơ nhiễm khuẩn  mạn và chết vì xơ gan, suy gan và ung thư gan tỷ lệ nghịch với độ tuổi bị nhiễm HBV. Những người nhiễm HBV mạn tính đều dễ nhiễm một chủng virut viêm gan khác là viêm gan D

Posted in: | Posted by :

Những hiểu lầm về bệnh viêm gan B

Bệnh viem gan B là bệnh di truyền?

Quan điểm khoa học: Đây là bệnh truyền nhiễm không phải bệnh di truyền, tuy nhiên nếu mẹ bị nhiễm bệnh sẽ có nguy cơ cao lây truyền sang con trong quá trình sinh đẻ, nhưng có thể hạn chế tới 95% nguy cơ này nếu dự phòng đúng cách.
Ăn uống chung  hoặc tiếp xúc với người bị viêm gan B sẽ bị lây?
Quan điểm khoa học: Viêm gan B không lây theo đường ăn uống giống viêm gan virut A, E nên khi ăn chung không bị lây truyền. Vì bệnh chỉ lây theo đường máu nên trong gia đình không được dùng dao cạo râu và bàn chải đánh răng chung với người có nhiễm virut viêm gan B.
Các loại thảo dược có thể điều trị khỏi hoàn toàn viêm gan virut B?
Quan điểm khoa học: Cho tới nay chưa có công trình khoa học đáng tin cậy nào cho thấy thuốc nam hoặc thuốc bắc có thể chữa khỏi hoàn toàn viêm gan virut B. Viêm gan B cấp tính không cần điều trị gì đặc hiệu sau 3-6 tháng, 90% số người mắc bệnh sẽ khỏi hoàn toàn. Ở những người viêm gan virut B mạn tính khi dùng thuốc nam hoặc thuốc bắc có thể cải thiện tình trạng chung như: ăn ngon, ngủ tốt hơn, nhưng ngày nay khi các phương tiện xét nghiệm hiện đại cho phép đo được nồng độ virut viêm gan B trong máu cho thấy thực chất virut vẫn  nhân lên trong cơ thể và gây tổn thương gan.
 
viem gan B
 
Cục Quản lý dược và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho biết có nhiều  thuốc có nguồn gốc thảo dược có thể  gây viêm gan do đó đã cấm sử dụng một số thảo dược như: Ma Huang, Kava, Ephedrine, Germander, Jin Bu Huan, Sassafra... Vì vậy  cần rất thận trọng khi sử dụng thảo dược để điều trị viêm gan virut B.
Tất cả người viêm gan B đều sẽ chết vì xơ gan và ung thư gan?
Quan điểm khoa học: Ở người lớn viêm gan virut B cấp tính thì 90% số trường hợp sẽ khỏi hoàn toàn còn lại chỉ 10% trở thành viêm gan virut B mạn tính, mà chỉ có viêm gan virut mạn tính không được theo dõi và điều trị mới gây ra xơ gan và ung thư gan.
Người bị viêm gan virut mạn tính phải có biểu hiện: đau vùng gan, không ăn được, sụt cân, vàng da?
Quan điểm khoa học: Hầu hết bệnh nhân bị viêm gan virut B mạn tính không có biểu hiện ra ngoài mặc dù bệnh vẫn tiến triển âm thầm dẫn tới xơ gan và ung thư gan.
Đã tiêm phòng virut viêm gan B là không bị viêm gan virut B?
Quan điểm khoa học: Tiêm vaccin phòng bệnh chỉ có tác dụng khi người đó chưa có nhiễm virut viêm gan B và sau tiêm phải tạo ra được nồng độ kháng thể Anti-HBs > 10 IU/l mới có tác dụng phòng mắc bệnh, vì vậy trước khi tiêm phòng cần xét nghiệm HBsAg và Anti-HBs. Nếu xét nghiệm cho kết quả âm tính với HBsAg mà đồng thời có âm tính với Anti-HBs hoặc nồng độ Anti-HBs thấp < 10 IU/l thì cần phải đi tiêm phòng vì cơ thể chưa bị nhiễm virut viêm gan B và cũng chưa có khả năng miễn dịch với bệnh hoặc đáp ứng miễn dịch còn thấp, chưa đủ khả năng bảo vệ. Nếu có HBsAg dương tính, việc tiêm phòng không có tác dụng dự phòng.
Khi xét nghiệm mà có HBsAg dương tính phải kiêng ăn các thức ăn có nhiều đạm và chất béo như thịt cá, trứng, sữa...?
Quan điểm khoa học:  Đối với những người không bị béo không phải kiêng thức ăn gì, đặc biệt họ có thể ăn uống bình thường và không dùng đồ uống có cồn như: bia, rượu.
Posted in: | Posted by :

Triệu chứng của bệnh viêm gan B

Những dấu hiệu của bệnh viêm gan B

Viem gan B có thể chia làm nhiều loại: cấp, mãn hay thể kéo dài.

Tuy mỗi dạng có những đặc trưng riêng, nhưng đều có chung một số dấu hiệu viêm gan B sau:

Người mới bị Viêm gan virus B cấp, thường bị sốt nhẹ trong những ngày đầu của bệnh.
Tuy nhiên, những người bị viêm virus B mãn cũng có thể sốt nhẹ nhưng bệnh nhân thường bị sốt thất thường vào chiều.  Bệnh nhân có cảm giác người rất mệt mỏi, không muốn ăn uống, không muốn đi lại. Triệu chứng này tồn tại ở đa số bệnh nhân với các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, cũng có những bệnh nhân Viêm gan virus B chỉ có triệu chứng mệt mỏi là duy nhất. Bệnh nhân có thể có rối loạn tiêu hoá, thể hiện: khi ăn vào ậm ạch khó tiêu, đi ngoài phân lỏng, nát…
Đặc biệt, với những trường hợp viêm gan B có ứ mật nặng thì phân bị bạc màu. Bệnh nhân có nước tiểu vàng. Có nhiều bệnh nhân bị viêm gan B không thể hiện những triệu chứng trên mà chỉ có hai triệu chứng là mệt mỏi và đi tiểu vàng.


Một số bệnh nhân có dau hieu cua benh viem gan B là  đau tức vùng gan.

Dấu hiệu vàng da. Điều này rất có ý nghĩa thúc đẩy người bệnh nghĩ đến việc mình bị Viêm gan và đi khám bệnh. Tuy nhiên, có rất nhiều bệnh nhân bị viêm gan B mà không hề bị vàng da. Lúc này, cần để ý tới các triệu chứng khác để nghĩ đến khả năng bị viêm gan B.
Khi bệnh nhân có các triệu chứng nêu trên mà xét HBsAg (+) dương tính và men gan tăng thì khả năng chắc chắn là bị  bệnh viêm gan siêu vi B. Các triệu chứng thường xuất hiện 4-6 tuần sau khi nhiễm HBV và có thể từ nhẹ đến nặng, gồm một số hoặc đủ các triệu chứng sau đây: chán ăn, buồn nôn và nôn, ốm yếu và mệt mỏi, đau bụng vùng gan, vàng da và vàng mắt, đau khớp, nước tiểu sẫm màu. Viêm gan B mạn tính: 90% trường hợp nhiễm HBV ở tuổi trưởng thành sẽ hồi phục hoàn toàn, còn 10% chuyển thành nhiễm khuẩn mạn tính.
Trong khi nếu trẻ em bị nhiễm HBV sau khi sinh thì khoảng 90% số trẻ này sẽ bị nhiễm khuẩn mạn tính. Thời kỳ này kéo dài nhiều năm, thường không có triệu chứng gì, nhưng sẽ dẫn tới hậu quả nặng nề như xơ gan, xuất huyết tiêu hóa, ung thư gan... Xét nghiệm máu, HBsAg dương tính trong các trường hợp: nhiễm HBV mạn tính tiến triển gây ra phản ứng viêm kéo dài trong gan; Những người đã từng nhiễm HBV, cơ thể đã tạo ra miễn dịch và thải trừ hoàn toàn HBV nhưng hiện tại không có viêm gan; Người lành mang mầm bệnh, ở họ không có bằng chứng viêm gan, nhưng cũng không đào thải hết siêu vi ra khỏi cơ thể, khi đó họ mang HBV trong máu và có thể lây nhiễm sang người khác.
Posted in: | Posted by :

Các bài thuốc nam chữa trị bệnh gan


Cây mã đề
Một số bài thuốc nam chữa xơ gan
Bài 1
Rễ tân di  1.000g, sắc 3 lần, mỗi lần sắc trong 2 giờ, hoà nước thuốc cả ba lần, cô lại còn 2000 ml, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 20 ml.
Điều cần lưu ý là, khi dùng tân di phải chùi sạch lông, nếu không thì phải cho vào túi vải buộc kín miệng mà sắc để tránh gây ho và gây ngứa.
 
Bài 2
Thân rễ gừng gió 100g tươi, để nguyên vỏ rửa sạch, thái mỏng, cho vào ấm đất, đổ 4 bát ăn cơm nước, sắc nhỏ lửa còn 1 bát gạn lấy nước uống vào lúc 10 giờ. Nước hai cũng đổ 4 bát nước, sắc nhỏ lửa còn lại 1 bát uống vào lúc 16 giờ. Sau khi uống thuốc gừng gió chừng 1 - 2 tiếng sẽ thấy bụng sôi nhẹ và muốn đại tiện. Khi đại tiện thấy phân loãng, hôi, màu nhạt nâu như bã cà phê, thế là có tác dụng. Tuy nhiên trong suốt thời gian sử dụng thuốc cần phải ăn nhạt, hạn chế ăn các loại hoa quả chín giàu kali vì sẽ gây đầy bụng, kiêng rượu, bia, không ăn mỡ động vật, ăn ít dầu thực vật và không ăn các chất tanh.
 
Bài 3
Nhân dân vẫn dùng lá non làm rau ăn. Ráy gai, chủ yếu là thân rễ được dùng chữa viêm thận phù thũng, đau nhức các khớp xương từ đầu gối xuống bàn chân, đau nhức lưng, đau nhức đầu, táo bóncác bệnh về gan, viêm gan nhẹ, xơ gan cổ trướng. Còn dùng chữa ho và viêm họng, di chứng do sốt rét, mụn ở mặt, ngứa lở ngoài da. Liều dùng 12-16g, dạng thuốc sắc.
 
Một số bài thuốc nam chữa viêm gan vàng da
Bài1
Ốc nhỏ, nuôi ốc cho nhả hết đất, hằng ngày luộc ăn thịt, uống nước, chữa viêm gan vàng da do rượu.
Bài 2
Ráy gai 12 g, chó đẻ răng cưa 20 g, nhân trần 12 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần. 

Bài 3
Cây mã đề( còn gọi là cây xa tiền ) tươi lượng vừa phải, rửa sạch, dã lấy nước, mỗi lần dùng 100-150ml, thêm rượu nóng vào( bao nhiêu rượu thì căn cứ vào tửu lượng của người bệnh ) đắp chăn cho ấm, ra mồ hôi là có hiệu quả, uống liền 5-7 ngày
Bài 4
Cỏ mần trầu tươi 60g, rễ tổ kén đực 30g sắc uống.
 
Một số bài thuốc nam giúp giải độc gan
Bài 1
Kim ngân, Sài đất, Thổ phục linh, mỗi vị 20g và Cam thảo đất 12g, sắc uống.
Bài 2
Mộc nhĩ trắng, đường, mộc nhĩ rửa sạch, nấu chín kỹ, cho đường vào, ăn tùy ý.

Bài 3
Nấm hương, đậu phụ, dầu vừng, tỏi. Nấm hương rửa sạch, sấy khô, tán nhỏ, đun sôi nước, quấy bột nấm hương vào, cho tiếp tỏi, gia vị và sau cùng cho đậu, dầu vừng quấy đều ăn là được.
Bài 4
Rễ, thân, lá, phơi khô sắc uống hoặc đun uống thay nước hàng ngày, ngày dùng 100g
 
Một số bài thuốc nam chữa gan nhiễm mỡ
Bài 1
Hồng hoa 10g, kim ngân hoa 10g, hoa nhài 10g, đổ 200ml nước sôi vào cốc rồi cho cả 3 vị vào, đậy nắp lại trong 10 phút. Mỗi ngày uống 1 cốc thay chè, có thể uống thường xuyên
Bài 2
Sơn tra 15g, lá sen 15g. Sơn tra bỏ hạt cắt nhỏ, lá sen phơi khô, thái sợi, trộn đều 2 thứ, Cho vào nước sôi ngâm 20 phút, uống thay chè trong ngày, mỗi ngày 1 liều, chủ trị gan nhiễm mỡ.
Bài 3
Cỏ nhọ nồi 30g, nữ trinh tử 20g, trạch tả 15g, đương quy 15g. Trường hợp gan nhiễm mỡ do nghiện rượu thì thêm: Cát căn 30g, chỉ củ tử (hạt khúng khéng) 15g, bồ công anh 15g; Người béo phì dẫn đến gan nhiễm mỡ thì thêm: đại hoàng 6g, lá sen 15g. Sắc lấy nước uống, mỗi ngày một thang.
Posted in: | Posted by :
Hiển thị các bài đăng có nhãn viêm gan b. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn viêm gan b. Hiển thị tất cả bài đăng
Share template blogspot, share code